Thứ Ba, 21 tháng 12, 2010

Lê Văn Duyệt

Mộ tả quân Lê Văn Duyệt hiện ở đâu?


TTCT - LTS: Tả quân Lê Văn Duyệt, công thần khai quốc triều Nguyễn, được dân chúng thờ phụng ở một số nơi tại miền Nam.
Trong đó, hai địa điểm được nhắc đến nhiều nhất vì đều có lăng mộ là Lăng Ông ở quận Bình Thạnh, TP.HCM và quần thể lăng mộ ở xã Long Hưng, huyện Châu Thành, Tiền Giang, sinh quán của Tả quân.
Nhiều năm gần đây, một số nhà nghiên cứu có đưa ra nhận định là mộ thực của Tả quân nằm ở Tiền Giang chứ không ở TP.HCM. Nhưng cuộc khảo sát bi ký học ở Tiền Giang vào đầu tháng tư năm nay của nhà nghiên cứu Lý Việt Dũng đã đưa ra kết luận ngược lại.
Tả quân Lê Văn Duyệt và triều Nguyễn
Vào triều Minh Mạng, Lê Văn Duyệt làm tổng trấn thành Gia Định, coi cả quân dân trọn vùng Nam bộ, quyền uy rất lớn. Vua Minh Mạng rất úy kỵ Lê Văn Duyệt. Có nhiều lý do:
1. Khi vua Gia Long sắp băng hà có hỏi ý kiến thì Lê Văn Duyệt tâu là nên truyền ngôi cho con của Đông cung Cảnh đã quá cố thay vì hoàng tử Đảm là vua Minh Mạng sau này.
2. Lê Văn Duyệt ít học, bản chất quan võ nóng nảy, nói năng cộc lốc, chẳng biết chiều đón ý vua, khi tấu đối thường không vừa ý Minh Mạng.
3. Lê Văn Duyệt có nhiều hành động ỷ mình là cố mệnh đại thần (đại thần của tiên đế), nặng nhất là vụ chém Hoàng Công Lý, cha một cung tần sủng ái của vua Minh Mạng.
4. Theo Đại Nam liệt truyện chính biên thì khi làm tổng trấn thành Gia Định, Lê Văn Duyệt uy quyền to lắm mà lòng người cũng kính phục nên vua Minh Mạng tuy trong lòng căm ghét nhưng cũng không dám làm gì. Năm 1832 Tả quân qua đời thì vua Minh Mạng bỏ chức tổng trấn Gia Định mà đặt chức tổng đốc Phiên An thay thế, rồi cử Nguyễn Văn Quế làm tổng đốc, Bạch Xuân Nguyên làm bố chính.
Nguyên là đứa tham bạo lại nói rằng mình nhận mật chỉ đến truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt, rồi tra hỏi chứng cớ, trị tội bọn bộ hạ của Tả quân ngày trước, trong đó có Lê Văn Khôi. Khôi nguyên tên Nguyễn Hữu Khôi người Cao Bằng, nhân làm loạn bị quan quân truy đuổi phải chạy vào Thanh Hóa được Tả quân lúc này làm kinh lược ở đấy chiêu dụ. Khôi ra đầu thú được ông Duyệt tin dùng, cho làm con nuôi, đổi tên lại là Lê Văn Khôi, đem theo vào Gia Định.
Khôi mưu cùng quân lính nổi dậy giết cả Bạch Xuân Nguyên và Nguyễn Văn Quế rồi rút vào thành Gia Định chống lại quân triều. Thành này rất kiên cố nên mãi đến tháng 7-1835 sau khi Lê Văn Khôi chết, thành mới bị phá. Quân triều vào giết cả thảy 1.831 người chôn chung một chỗ gọi là Mả ngụy.
Sau vụ án ngụy Khôi, năm 1835 có Phan Bá Đạt ở Đô Sát Viện dâng sớ kể tội Tả quân, xin truy đoạt quan chức, vợ con phải giải về Hình bộ xét tội. Vua dụ cho đình thần nghị xử. Vài hôm sau có nhóm nội các là Hà Quyền, Nguyễn Tri Phương và Hoàng Quýnh nghị tội Tả quân có sáu điều, được vua ưng chuẩn giao đình thần kết án. Án nghị Tả quân có bảy tội phải chém, hai tội phải thắt cổ, một tội phải sung quân.
Đoạn quan trọng nhất trong bản án nghị rằng: “Sự biến Phiên An, hắn thực là đầu vạ nên chiếu theo luật mưu phản, khép vào tội lăng trì, song hắn đã chịu minh tru, vậy xin truy đoạt cáo sắc, phá bỏ quan quách giết thây, để tỏ gương răn cho người khác. Còn như ông bà đời trước, ông nội bà nội, cha mẹ của hắn nếu được phong tặng cáo sắc, thì xin truy đoạt cả, mồ mả cha mẹ có tiếm dụng phong cáo trái phép nào thì đục bỏ bia đi”.
Nghị án đưa lên, vua dụ có đoạn rằng: “Tội Lê Văn Duyệt nhổ từng cái tóc mà kể cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bửa quan quách mà giết thây cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu và đã truy đoạt quan tước, xương khô trong mả, chẳng cần gia hình chi cho uổng công. Vậy cho tổng đốc Phiên An (Gia Định) đến chỗ mả hắn cuốc bỏ núm mộ san bằng mặt đất và khắc đá dựng bia ở trên viết to mấy chữ: “Đây chỗ tên lại cái lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phép nước”. [Quyền yêm Lê Văn Duyệt thụ (có bản chép “phục”) pháp xứ].
Mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định bị cuốc bằng và bị xiềng xích. Đến năm Tân Sửu (1841) vua Thiệu Trị lên ngôi, biết Tiên đế làm tội oan Lê Văn Duyệt, nên xuống chiếu hủy bỏ bia kết tội cùng xiềng xích và cho xây đắp cả lại, tức là mộ mà nay ta còn thấy ở Bà Chiểu Gia Định.
Năm đầu đời Tự Đức (1848), Đông Các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin phục hồi quan tước, gia ơn cho con cháu các công thần Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất. Vua Tự Đức xem sớ cảm động mới truy phong lại cho cả ba ông và ban phẩm hàm cho con cháu họ. Lại cho đắp phần mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định cao rộng thêm và cho tu bổ lại đền thờ cạnh mộ tại vùng Bà Chiểu, nay gọi là Lăng Ông Bà Chiểu (trích Tri Tân tạp chí - bài “Lê Văn Duyệt” của Nguyễn Triệu).
Đọc những chữ bị Minh Mạng ra lệnh đục xóa trên các bia mộ của song thân Tả quân


Nhà nghiên cứu Lý Việt Dũng
Các ngôi mộ tại làng Long Hưng chỉ bị đục bỏ tước hiệu khắc trên bia, chứ không bị san phẳng đeo xiềng xích. Điều này cũng góp phần minh chứng ngôi mộ trên Lăng Ông Bà Chiểu mới chính là mộ thật vì khi án được thi hành chỉ có mộ thật mới bị san phẳng, xiềng khóa và dựng bia sỉ nhục, còn ngôi mộ vọng tại làng Long Hưng không bia thì chẳng bị gia hình gì cả. Mà đối với một trọng án của triều đình thì không bao giờ có chuyện nhầm lẫn mộ thật với mộ vọng. Ngoài ra ông Hoàng Cao Khải, đại thần triều Thành Thái, khi viết bài văn bia kể lại tiểu sử của Tả quân cũng dựng bia tại ngôi mộ ở Gia Định.
Ngày 6-4-2006, chúng tôi về Tiền Giang dự lễ giỗ của song thân Tả quân Lê Văn Duyệt mà nhân dân địa phương ấp Thạnh Hòa, xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (nơi sinh của Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt) quen gọi thân mật là giỗ Ông cố, Bà cố.
Đồng bào địa phương và các tỉnh lân cận đến chiêm bái rất đông, khói hương lan tỏa khắp không gian u tịch cổ kính với nhiều cổ thụ vươn tàn rộng mát. Đây là một quần thể lăng mộ gồm hai ngôi mộ cực to và bốn ngôi vừa phải xây bằng đá ong tô ô dước màu rêu đen. Ngôi mộ to bên trái từ ngoài nhìn vào có hai vòng thành: vòng ngoài nay lì sát mặt đất bề ngang 17,75m, bề dài 21,12m; vòng trong bề ngang 10,9m, bề dài 14,43m, bề dày thành mộ 42cm. Mộ hình căn nhà đòn dông dọc, chiều ngang 2,63m, dài 3,6m, cao 2,13m. Bia chiều ngang 0,77m, chiều đứng 1,43m, viền khắc hoa văn, đầu bia hình chữ kim cũng có hoa văn rất đẹp. Bia bằng đá xanh màu xanh thẫm, được đục phẳng rồi mài láng mặt, chữ khắc âm nét rất sắc sảo.
Các chữ trên mặt bia hầu hết bị đục xóa tan nát chẳng thể nào đọc được. Tuy nhiên, may mắn thay, hình như vị quan nhận lệnh triều đình Minh Mạng đục bia đã cảm nghĩa thương tình nên chừa lại những chữ cần thiết để người đời sau có thể xác định được người nằm dưới mộ là ai.
Trong khi chúng tôi đang dang nắng mò mẫm cố đọc những chữ bị đục trong mặt bia thì một số đông đồng bào cùng khách thập phương tò mò đứng phía sau theo dõi, một nhân sĩ sở tại lên tiếng: “Ông tìm hiểu chi cho mệt! Đây là mộ của đức Tả quân đấy. Một nhà văn nổi tiếng đã xác nhận đây đúng là mộ ngài vì trong bia có khắc hai chữ “Thống Chế” .
Nhưng theo chúng tôi biết, đây là tước hàm mà vua Minh Mạng đã cáo tặng thân phụ Tả quân khi ông mất năm 1821. Cũng cần phải nói thêm là ngay hàng lạc khoản bên trái còn sót lại bảy chữ: “Tự tử...(các chữ bị đục bỏ) Lê Văn Duyệt bái giám” , nghĩa là: “Người con nối dõi (chức tước bị đục bỏ) là Lê Văn Duyệt cúi lạy xin chứng giám lòng thành (lập bia)”.
Hàng chữ to ở giữa còn bốn chữ: “Hiển khảo... (chữ bị đục) chi mộ” , nghĩa là: “Ngôi mộ của người cha đã qua đời của tôi...(chữ bị đục bỏ)”. Hàng bên phải nơi ghi ngày tháng lập bia còn nguyên tám chữ: “Tuế tại Tân Tỵ trọng xuân cốc nhật” , nghĩa là: “(Bia được lập) ngày tốt tháng hai năm Tân Tỵ (1821)”.
Tuy trọn ngày 6-4-2006 chúng tôi đã cố gắng dùng đủ mọi kinh nghiệm trong nhiều năm nghiên độc bia mộ nhưng cũng đành chịu không thể đọc được chữ nào trong bốn hàng chữ bị đục vỡ, nên đành hẹn tuần sau sẽ quay lại thực hiện phương pháp dập bia của Trung Quốc. Nhưng chỉ căn cứ và những chữ còn sót lại chúng tôi cũng cho rằng người nằm dưới mộ là ông Lê Văn Toại, cha của Tả quân, vì những lý do sau đây:
1. Qua tư liệu lịch sử đích xác thì khi còn sanh tiền ông Lê Văn Toại đã có lần được ra kinh đô Huế triều kiến vua Gia Long, được phong hàm “Vũ Huân tướng quân chưởng cơ hầu” và ân tứ áo khăn. Năm 1819 vua Gia Long băng hà, Lê Văn Duyệt phải ra Huế chịu tang vua và theo lệ phải hiếu tang ba năm. Năm 1821 ông Toại mất, Tả quân phải cáo tang và xin đặc ân chịu tang cha trong khi còn chịu tang vua. Vua Minh Mạng ân tứ và cho sứ giả theo Lê Văn Duyệt vào Gia Định phúng điếu, đồng thời tặng chức hàm Thống chế cho thân phụ Tả quân (trích Đại Nam liệt truyện chính biên).
2. Bia ngôi mộ lớn nhất lập năm Tân Tỵ (1821), Tả quân mất năm 1832. Lạc khoản cũng ghi: “Người lập bia là đứa con nối dõi Lê Văn Duyệt”. Hai chữ “Hiển khảo” khắc ở đầu mộ bia chỉ “Người cha qua đời của tôi” (tức của người lập bia Lê Văn Duyệt) thì người nằm trong mộ không ai khác là ngài Lê Văn Toại, cha của Tả quân.
Hậu học LÝ VIỆT DŨNG

cây lá lốt

Có một cách chữa bệnh đổ mồ hôi chân tay không cần mổ và không mất tiền nhưng khá hiệu nghiệm. Tôi bị bệnh ra mồ hôi chân tay từ thời tuổi trẻ. Đi tất buổi sáng, buổi chiều đã phải thay vì mùi hôi. Một người bạn dân tộc Nùng đã mách tôi cách chữa bệnh. Nhưng hồi ấy tôi không để ý. Cách đây hơn 10 năm nhớ lại, tôi đã thử chữa. Thật bất ngờ, một tuần sau khi dùng thuốc, bệnh của tôi đã thuyên giảm cơ bản.
Bài thuốc đơn giản như sau: nhổ những cây lá lốt lấy cả rễ, cắt bỏ phần ngọn rồi chặt thành từng khúc dài bằng hai đốt ngón tay. Rửa thật sạch, đem phơi cho tái đi, sau đó đem sao vàng. Khi mẻ cây lá lốt sao chuyển sang màu vàng, đổ xuống đám đất sạch cho nguội đi. Phương pháp này dân gian gọi là "hạ thổ" để lấy "âm dương".
Mỗi ngày, lấy một nắm lá lốt đã sao vàng ấy cho vào ấm đun sôi chừng 15 phút. Nước lá lốt này không nên đặc quá hoặc loãng quá. Uống cả ngày như uống nước chè. Mỗi ngày một ấm thuốc, uống liên tục trong vòng 7 ngày. Sau khi ngừng uống 4 đến 5 ngày tiếp tục uống thuốc thêm một tuần nữa chắc chắn bạn không còn phải khó chịu vì bệnh ra mồ hôi chân tay nữa.
Nhiều năm qua, khi tiếp xúc với nhiều người, hễ bắt tay ai ướt mồ hôi tôi đều mách cho họ cách chữa. Rất nhiều người đã khỏi bệnh khi chữa bằng phương pháp uống cây lá lốt như cách mà tôi trình bày ở trên. Riêng tôi, cứ sau 2 năm tôi lại dùng lại một đợt thuốc lá lốt cho "chắc ăn".
Tôi mong nhiều người sẽ chữa khỏi bệnh bằng phương pháp đơn giản này. Nếu bạn ở nông thôn thì chắc chắn sẽ không tốn tiền vì cây lá lốt rất sẵn trong vườn nhà bạn. (Nếu có gì chưa rõ, bạn đọc có thể liên hệ tôi theo địa chỉ: số 5 Hòa Mã, Hà Nội, ĐT: 0913219865).

Thứ Hai, 4 tháng 10, 2010

THƯ VIỆN

PHÒNG GD&ĐT XUYÊN MỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trường : TH Trần Phú Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
----------------------- Trần Phú , ngày 24 tháng 5 năm 2010

BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN
Năm học : 2009 – 2010

I/ Người phụ trách :
- Họ và tên : Trần Thị Bằng
- Ngày tháng năm sinh : 10/7/1968
- Trình độ chuyên môn : Cao Đẳng Thiết Bị
- Nhiệm vụ chính : Thiết bị :Kiêm nhiệm : Thư viện
- Thời gian bắt đầu làm công tác thư viện : 1999
II/ Đặc điểm tình hình của đơn vị :
1. Thuận lợi : ( Nêu rõ thực tế ở đơn vị )
- Được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường cũng như các ban ngành đoàn thể trong nhà trường nên công tác TV được nhiều thuận lợi.
2. Khó khăn :
- Hiện nay phòng thư viện đang sử dụng 1 phòng học cũ đã quá xuống cấp nên mọt mối rất nhiều thường xuyên tấn công các giá chứa sách , từ đó công tác bảo quản gặp không ít khó khăn .
III / Tình hình kho sách :

Sách N H : 2008- 2009 Bổ sung NH : 2009 -2010 Ghi chú
SGK lớp 1 8 6 14
SGK lớp 2 8 6 14
SGK lớp 3 8 6 14
SGK lớp 4 8 6 14
SGK lớp 5 8 6 14
S Nghiệp Vụ 8 6 14
STK 8 6 14
S Thiếu Nhi 8 6 14
Tổng cộng 64
48
112


Tỷ lệ STK/ HS đạt : 5 %
Số HS có sách GK đạt tỷ lệ : 95 %
- Nhà trường đã có những biện pháp gì để tự bổ sung sách cho thư viện :
Vận động ủng hộ các đầu sách hay, hoặc sách cũ còn sử dụng được biếu tặng cho thư viện.
IV/ CSVC :
- Phòng đọc : 0 diện tích : 0 Số chổ ngồi : 0
- Kho sách : 01 diện tích : 40m2
- Tủ , kệ sử dụng trong thư viện , số lượng : 06
- Trang thiết bị khác …như quạt, đèn : 05 ; 24
- Đã có bảng , biểu gì tại thư viện : nội quy :
+ Quy định việc mượn trả sách và thiết bị.
V/ Ngiệp vụ :
- Hồ sơ quản lý : số lượng các loại sổ : 04
- Tình hình sử lí nghiệp vụ sách, tài liệu trong kho , Xếp giá theo quy định nào:
+ Xếp giá theo quy định của nghiệp vụ thư viện.
- Hạn chế trong công tác nghiệp vụ :
+ Cơ sở vật chất quá xuống cấp, phòng thư viện chật và tối nên công tác hoạt đông thư viện cũng như bảo quản gặp nhiều khó khăn.
VI/ Tổ chức hoạt động của thư viện :
- Thời gian phục vụ cho bạn đọc trong ngày, tuần : 05/ tuần
- Số lớp được điều tra số lượng sách trong học sinh đạt tỷ lệ 50 %:
- Trong năm học đã bao nhiêu lần tổ chức giới thiệu sách mới,
sách theo chủ đề : 03 lần
- Mạng lưới cộng tác viên của thư viện: đã có hay không …0. Tình hình hoạt động của mạng lưới CTV..: 0
- Các hoạt động thi kể chuyện thư viện đã có những hoạt động thiết thực nào để giúp các em tham dự cuộc thi : Thường xuyên tổ chức cho Các em đọc truyện và kể lại những chuyện đã đọc cho các bạn cùng nghe.
- Các hoạt động khác : Tham gia công tác thi kể chuyện sách do nhà văn hóa xã Hòa Hiệp tổ chức trong các dịp hè và ngày lễ lớn.
KIẾN NGHỊ :
- Xây dựng để trường có được thư viện cũng như phòng chức năng khác nhằm phục vụ công tác giáo dục được tốt hơn.
- Tăng cường các đầu sách tham khảo để học sinh được phong phú nguồn sách để tham khảo vì hiện tại địa phương chưa có nhà sách.

Phụ trách thư viện Hiệu trưởng



Trần Thị Bằng

THƯ VIỆN

PHÒNG GD&ĐT XUYÊN MỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trường : TH Trần Phú Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
------------------ Trần Phú , ngày 24 tháng 5 năm 2010

BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG THIẾT BỊ
Năm học : 2009 – 2010

I/ Người phụ trách :
- Họ và tên : Trần Thị Bằng
- Ngày tháng năm sinh : 10/7/1968
- Trình độ chuyên môn : Cao Đẳng Thiết Bị
- Nhiệm vụ chính : Thiết bị :Kiêm nhiệm : Thư viện
- Thời gian bắt đầu làm công tác thư viện : 1999
II/ Đặc điểm tình hình của đơn vị :
1. Thuận lợi : ( Nêu rõ thực tế ở đơn vị )
- Được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường cũng như các ban ngành đoàn thể trong nhà trường nên công tác TV được nhiều thuận lợi.
2. Khó khăn :
- Hiện nay phòng thư viện đang sử dụng 1 phòng học cũ đã quá xuống cấp nên mọt mối rất nhiều thường xuyên tấn công các giá chứa sách , từ đó công tác bảo quản gặp không ít khó khăn .
III/ Tình hình kho TB:
- Phòng thí nghiệm : lý , hóa , sinh : 0
- Số lượng tủ : 03
- Số lượng kệ : 03
- Số lượng phòng máy : 0
- Số lượng máy : 04
- Số máy đang hoạt động : 04
- Kho thiết bị dùng chung : 01 DT sử dụng : 40m2 Tủ kệ : 06
- Số lượng đàn Ogan : 08 Số hiện còn đang sử dụng : 08
- Những thiết bị hiện đang còn thiếu cần bổ sung : Phòng máy
IV/ Tổ chức hoạt động :
- Đã xây dựng kế hoạch hoạt động của bộ phận hay chưa : Đã xây dựng.
- Các biện pháp đã thực hiện : Thường xuyên giới thiệu các sản phẩm thiết bị cho các môn học trong các buổi sinh hoạt chuyên môn để qua đó giáo viên cập nhật tốt các thiết bị mới cấp cũng như thiết chưa sử dụng đến.
- Hàng tuần, hàng tháng có tổng hợp số lượt sử dụng ĐD hay không ? : có
- Số lượng sử dụng ĐDDH trong học kỳ : 90 lượt / mỗi giáo viên
- Số lượng sử dụng ĐDDH trong cả năm học : 150 lượt / mỗi giáo viên.
- Đánh giá việc sử dụng đồ dùng của giáo viên :
+ Ưu điểm : Nhìn chung giáo viên tích cực trong việc sử dụng đồ dùng, lượt mượn đồ dùng đều đặn xuyên suốt trong năm học trên từng buổi học. Ngoài ra giáo viên còn tích cực làm thêm đồ dùng để giảng dạy và tặng làm thiết bị dùng chung.
+ Khuyết điểm : Một số đồ dùng được cấp thường kém chất lượng sử dụng , dễ hư hỏng và không đúng thông số của một số vật đo, cân.

KIẾN NGHỊ :
- Xây dựng để trường có được phòng thiết bị cũng như phòng chức năng khác nhằm phục vụ công tác giáo dục được tốt hơn.
- Các đồ dùng cần đạt chất lượng về độ dẻo bền, cũng như các thông số kỹ thuật để quá trình thực hiện thí nghiệm trên lớp đạt hiệu quả hơn.

Phụ trách thư viện Hiệu trưởng



Trần Thị Bằng

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2010

BÀI THUỐC TRỊ GAN B

nữa ký cây chó đẻ tươi, nữa ký gan heo sống, 1/4 quả thơm dứa. Đổ 4 bát nước nấu còn 1 chén, lần 2 3 bát nước còn 2/3 chén.

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2010

phụ nữ hôm nay

TRÒ VÀ SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG XÃ HỘI

Giống như ở nhiều quốc gia khác, tại Việt Nam, ngày Quốc tế Phụ nữ được tổ chức cách trang trọng: một ngày tràn ngập sắc hoa và những lời chúc tốt đẹp dành cho các chị em phụ nữ. Hầu hết người ta đã không còn nhớ chính xác về ý nghĩa lịch sử của ngày này. Nam giới coi đây là cơ hội để thể hiện lòng quan tâm, sự ga-lăng của mình cho những người nữ mà họ yêu quý. Với sự tôn trọng, biết ơn và kết nối tình cảm từ trái tim của hai giới tính, ngày 8/3 đã bị xóa nhòa ranh giới về ý nghĩa thực của nó.

Với vòng xoay 365 ngày trong năm, người phụ nữ có riêng một ngày để được cả xã hội quan tâm, ngợi ca và cả bày tỏ lòng kính trọng. Một ngày "bù đắp" cho những vất vả của những người mẹ tảo tần sớm hôm, những người vợ đảm đang cả đời vun vén dựng xây tổ ấm gia đình, những người chị nặng gánh chăm lo cho đàn em. Không cần phải nói nhiều, bạn cũng có thể hình dung được vai trò và trách nhiệm to lớn của người phụ nữ mọi thời, đặc biệt là thời hiện đại: Phụ nữ là người nội trợ chính trong gia đình, là người lao động kiếm tiền ngang bằng với nam giới, là nhân tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của xã hội; là người gánh vác trách nhiệm sinh nở, cùng dày công nuôi dạy con cái trưởng thành…

Thành đạt hơn, đảm đang hơn, tự tin hơn và xinh đẹp hơn - đó là những hình ảnh tuyệt vời về những người phụ nữ Việt Nam của thế kỷ 21. Quả vậy, người phụ nữ đang dần khẳng định rằng mình là phái đẹp chứ không còn là... phái yếu như trước nữa!

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Hội Nghị Quốc Tế lần II (08-03-1910) chọn ngày 08/03 làm ngày Quốc Tế phụ nữ, để nhớ ơn những người phụ nữ đã đấu tranh cho nhân quyền, bình đẳng giới và nhân phẩm người nữ trên toàn thế giới, CTCD mời cả gia đình hãy dừng lại một chút để cùng nhau ôn lại lịch sử ngày 08/03.

Lịch sử ngày 8/3

Ngày 8/3 là cả một câu chuyện lịch sử dài về cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng và hạnh phúc cho người nữ của nhiều nhóm phụ nữ trên toàn thế giới. Chính phụ nữ là những người đã khai sinh nên ngày 8/3 lịch sử. Một thế kỷ trôi qua, để mỗi năm có một ngày ưu ái dành cho người nữ, thì đã có không ít máu và nước mắt đổ xuống trong quá khứ.

• Ngày 08-03-1857, tại Thành phố New York, công nhân ngành dệt chống lại những điều kiện làm việc khó khăn và tồi tàn của họ: 12 giờ làm việc mỗi ngày. Hai năm sau, năm 1859, cũng vào tháng 3, công đoàn đầu tiên do các nữ công nhân người Mỹ trong hãng dệt thành lập đã giành được một số quyền lợi trong việc cải thiện đời sống cho công nhân

• 51 năm sau, ngày 08-03-1908, 15.000 phụ nữ diễn hành trên các đường phố New York để đòi được giảm giờ làm việc, tăng lương và hủy bỏ tình trạng lao động trẻ em, với khẩu hiệu "Bánh mì và Hoa hồng" (Bread and Roses). Bánh mì tượng trưng cho bảo đảm kinh tế gia đình, hoa hồng tượng trưng cho đời sống tốt đẹp hơn. Một năm sau đó, ngày 28 tháng 2 năm 1909, Đảng Xã hội Mỹ công nhận và tuyên bố là Ngày Quốc tế Phụ nữ.

• Trong Hội nghị phụ nữ Quốc tế lần thứ II (khối Xã hội chủ nghĩa) được tổ chức ngày 08-03-1910, 100 nữ đại biểu thuộc 17 nước đã lên tiếng đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Chủ tịch là Clara Zetkin, một phụ nữ Đức, đã đề nghị chọn một ngày để toàn thế giới tri ân những người nữ đã đấu tranh cho nhân quyền và nhân phẩm của nữ giới trên toàn cầu. Hội nghị đã chọn ngày 8 tháng 3 làm Ngày Quốc tế Phụ nữ.

• Ngày 25-03-1911, 145 nữ công nhân của hãng Triangle Shirtwaist Company tại Thành phố New York, phần lớn là người di dân Ái Nhĩ Lan và người Do Thái đã chết thảm trong một vụ cháy xưởng dệt. Họ không thể thoát thân được vì cửa xưởng đã bị khóa chặt, để công nhân không được ra ngoài trước khi hết giờ làm việc. Có khoảng 80.000 người diễn hành trên các đường phố đễ đưa tang 145 nạn nhân chết cháy. Sự kiện đau lòng này đã thúc đẩy cho việc sửa đổi luật lệ lao động thời bấy giờ.

• Năm 1912, 14.000 công nhân hãng dệt đình công và la lớn "Better to starve fighting than starve working" (Chết đói vì chiến đấu hơn là chết đói vì làm việc). Các nữ công nhân đã đồng lòng đình công 3 tháng.

• Năm 1912, sự can đảm đình công để đòi tôn trọng nhân phẩm và quyền sống tốt hơn của 14.000 nữ công nhân tại Lawrence, Massachusetts đã gây cảm hứng cho bài thơ Bread and Roses của nhà thơ người Mỹ, James Oppenheim (1882-1932). Bài hát này thường được cất lên trong ngày Quốc tế Phụ nữ cùng với bài Happy Women’ Day

-Women Workers (Strike 1912 Bread & Roses) http://www.youtube.com/watch?v=19bzfhs_flU&feature=related
-International Women's day March 8 http://www.youtube.com/watch?v=NivskAgQVpQ
-Happy Women's Day 8 3 http://www.youtube.com/watch?v=674p7gT6Adw&feature=related

• Ngày 8 tháng 3 năm 1914: Phụ nữ Đức đòi quyền bầu cử, nhưng cuộc đấu tranh của họ phải kéo dài hơn 4 năm. Vào ngày 12 tháng 10 năm 1918, quyền lợi công dân chính đáng và bình đẳng của họ mới được chính phủ chấp thuận..

• Ngày 23 tháng 2 năm 1917 theo lịch Nga, nhằm ngày 8 tháng 3 dương lịch, các nữ công nhân người Nga đã xuống đường biểu tình, đình công đòi bánh mì và đòi phóng thích chồng con của họ - những người trở về từ chiến trận. Cuộc đình công này đã khiến Sa hoàng Nicolas II phải thoái vị và góp phần rất lớn vào cuộc Cách mạng tháng Mười ở Nga.

• Ngày 21 tháng 4 năm 1944, Quốc hội Pháp chấp nhận quyền bầu cử cho phụ nữ. Lần đầu tiên trong lịch sử, ngày 20 tháng 4 năm 1945, cách một thế kỷ so với thời điểm nam giới được quyền bầu cử (08-03-1848), phụ nữ Pháp được thực hiện quyền công dân, bỏ phiếu bầu hội đồng thành phố.

• Từ năm 1950 tại Việt Nam, mỗi năm vào ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch đều có tổ chức ngày lễ Hai Bà Trưng tại Sài Gòn, và sau đó đã dùng ngày lễ này làm ngày Phụ nữ. Hàng năm, một nữ sinh trường Trưng Vương và một nữ sinh trường Gia Long được chọn để đóng vai Hai Bà Trưng ngồi trên bành voi trong dịp cử hành lễ.

• Năm 1971, Thụy Sĩ chấp nhận quyền bầu cử cho phụ nữ.

• Ngày 8 tháng 3 năm 1975, Liên Hiệp Quốc bắt đầu chú ý và tổ chức ngày Quốc tế Phụ nữ.

• Năm 1977, nghĩa là hai năm sau, Liên Hiệp Quốc quyết định mời các nước dành một ngày để nói lên quyền lợi của người phụ nữ và hòa bình thế giới. Và ngày 8 tháng 3 được chọn để trở thành ngày lễ chung cho người nữ ở nhiều quốc gia trên toàn thế giới.

Trong bài “Vai trò và sứ mệnh của phụ nữ trong xã hội và giáo hội” hôm nay, tôi xin chia sẻ và trích dẫn nhiều từ kho tàng ca dao dân ca Việt Nam. Người phụ nữ VN đã đi vào huyền thoại và trở thành bất hủ trong văn học. Ca dao với muôn màu muôn sắc đã vẽ lên bức tranh trung thực, phản ánh đúng bản chất của xã hội, ghi nhận những tâm tư tình cảm trong sáng, giản dị, phản chiếu gương hy sinh, sự cần lao, ý chí đấu tranh quyết liệt của dân tộc và những khổ đau của thân phận người phụ nữ trong nhiều thời đại …..

Nhiều người, nhất là giới phụ nữ trí thức, khi nhắc đến ngày 8/3 liền gợi lên trong tâm trí họ những bất công, bất bình đẳng về mặt thể chất tinh thần và tình cảm, mà PN đã và đang phải gánh chịu từ trong gia đình đến ngoài xã hội và cả trong giáo hội. Còn tôi, tôi chỉ muốn gợi lên những nét đẹp, gia tăng những tích cực trong cuộc đời, hy vọng sẽ giảm được tiêu cực và hết lòng mong mỏi cuộc sống của chị em phụ nữ mỗi ngày luôn được yêu thương, trân trọng và hạnh phúc hơn.

Đã từ lâu, người phụ nữ trở thành nguồn cảm hứng phong phú, bất tận cho văn học và nghệ thuật. Người phụ nữ không chỉ đại diện cho cái đẹp, không chỉ là nhân tố cho hạnh phúc của trái tim, của bếp lửa gia đình, của những tình cảm tô đậm cho cuộc đời thêm ý nghĩa mà còn là đối tượng tập trung nhiều vấn đề trong nhiều thời đại xã hội khác nhau. Có người cho rắng: “Không có người phụ nữ thì không có văn học và nghệ thuật, và nếu không có bóng dáng người phụ nữ trong tác phẩm, thì tác phẩm ấy vô cùng buồn tẻ và đơn điệu”

I. VAI TRÒ VÀ SỨ MỆNH CỦA PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH

1. Tấm lòng hiếu thảo của người phụ nữ

Từ ngàn xưa, thảo kính cha mẹ luôn được xem là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người, là một yếu tố phải tuân giữ trong đạo làm người. Người Việt nam chúng ta có nhiều nghi lễ để bày tỏ lòng biết ơn thảo kính đối với Cha mẹ, kính nhớ cội nguồn tổ tiên. Đặc biệt người phụ nữ VN luôn chịu thương, chịu khó, mang nặng tình cảm, gắn bó với gia đình thể hiện qua tâm tư và những hành động cụ thể:

a. Biết rõ công ơn của cha mẹ

Người phụ nữ mang trong lòng một trái tim rất nhạy cảm, nên họ thường ý thức rõ công ơn sinh thành của mẹ cha.

“Nuôi con mới biết sự tình, cảm thương cha mẹ nuôi mình khi xưa”. Từ khi đứa con thụ thai trong lòng cho tới khi sinh con, người mẹ đã trải qua biết bao cực nhọc, lo âu cho từng miếng ăn giấc ngủ của đứa con. Con gái thường gần gũi với mẹ nên hiểu rõ và khắc ghi trong tâm những nỗi khổ cực ấy:

“Cha mẹ trọng quá ngọc vàng
Đền bồi sao xiết muôn vàn công ơn”
“Bao giờ cá chép hóa rồng
Đền ơn Cha mẹ ẵm bồng khi xưa”

Hay:

“Ơn Cha nặng lắm cha ơi
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”

Với ý thức nhớ ơn sinh thành và dưỡng dục của Cha mẹ, người phụ nữ sẵn sàng hy sinh, gánh vác công việc để phụng dưỡng, báo hiếu song thân.

b. Làm lụng tảo tần để nuôi cha mẹ

Con người cần lao động để tồn tại và tiến hoá. Đối với người phụ nữ, sự gánh vác tảo tần, lo toan chén cơm manh áo không chỉ có giá trị về lao động mà còn mang một ý nghĩa cao đẹp về tấm lòng thảo hiếu đối với mẹ cha:

“Khó nghèo đòn gánh liền vai
Bán buôn nuôi mẹ, giàu ai mặc giàu”
“Đói lòng ăn trái ổi non
Nhịn cơm nuôi mẹ cho tròn nghĩa xưa”

c. Hy sinh chữ tình để làm tròn chữ hiếu

Bất kỳ người phụ nữ nào dù đẹp hay xấu, Tạo Hóa cũng đặt để trong lòng họ niềm khát khao về một mái ấm gia đình cho riêng mình và lòng khao khát yêu và được yêu. Thế nhưng, người con gái giàu lòng thảo hiếu lại sẵn sàng kềm chế hay từ bỏ những khát vọng chính đáng ấy, để báo ơn Cha mẹ bằng những hành động rất cụ thể đời thường:

“Mâm cơm em dọn, bát đầy em bưng”
“Em nguyện ở vậy không chồng
Lo nuôi cha mẹ hết lòng đạo con”

Họ nghĩ đến báo hiếu Đấng Sinh Thành trước khi nghĩ đến tình cảm và hạnh phúc riêng tư, vì thế người con gái đã nhắn nhủ với người yêu:

“Khoan khoan đợi với em cùng
Công ơn phụ mẫu em chưa có đến”

Cũng chính vì thế mà nhạc sĩ Trần Tiến đã sáng tác bài hát rất cảm động mang tên “Chị Tôi”. Xin mời mọi người cùng thưởng thức qua giọng hát của Ca sĩ Thanh Sử.

Trần Thu Hà – Chị Tôi 2 (http://www.youtube.com/watch?v=mJAiLj6AJ5w)

Và khi đã lấy chồng, lòng người phụ nữ luôn đau đáu nhớ về cha mẹ, lo lắng không biết “gối loan ai đỡ, kỷ trà ai dâng”. Họ xót xa vì không được gần kề, chăm sóc cho cha già mẹ yếu để rồi “trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Khi có ai về quê nhà, họ vội gởi vài quả chuối, buồng cau gối ghém ân tình và lòng nhớ thương trong đó:

“Ai về tôi gởi buồng cau
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy”
“Ai về tôi gởi đôi giày
Phòng khi mưa nắng cho thầy mẹ đi”

Là người con trong gia đình, người phụ nữ cầu mong cho cha mẹ sống đời với mình để khuyên răn dạy dỗ, để làm chỗ dựa tinh thần và để mình có cơ hội phụng dưỡng mẹ cha:

“Mỗi đêm thắp một nén hương
Cầu cho cha mẹ sống đời với con
Người còn thì của cũng còn
Để người ban bảo vuông tròn nhân duyên”

2. Tấm lòng của người phụ nữ đối với chồng con

Người phụ nữ VN vốn được xem là người thủy chung son sắt, hết lòng vì chồng vì con và lấy hạnh phúc của gia đình làm hạnh phúc của riêng mình. Ca dao dân ca đã ghi lại những hình ảnh của ngưới phụ nữ đầy yêu thương đối với chồng, đầy tình mẫu tử đối với con cái. Tất cả được thể hiện qua:

a. Tấm lòng thủy chung son sắt của người phụ nữ

Một trong những phẩm chất tốt đẹp mang tính truyền thống của người phụ nữ VN là một lòng thủy chung, gắn bó và yêu thương chồng:

“Yêu anh cốt rũ xương mòn,
Yêu Anh đến thác vẫn còn yêu anh”

Keo sơn khắng khit trong tình nghĩa vợ chồng, nên người phụ nữ không dễ thay lòng đổi dạ:“dù cho nghiêng núi cạn sông chẳng rời” và “sang không phụ nghĩa, nghèo không phụ tình”. Họ đặt tất cả tâm tư nguyện vọng, tình thương và chính mạng sống mình cho việc vun đắp hạnh phúc gia đình, chỉ biết có chồng con:

“Chồng ta áo rách ta thương
Chồng người áo gấm, xông hương mặc người”
“Chồng người võng ngựa người yêu
Chồng em khố bện, em chiều em thương”

b. Tảo tần hy sinh chấp nhận mọi gian khổ vì yêu thương chồng

“Qua đồng ghé nón thăm đồng
Đồng bao nhiêu lúa thương chồng bấy nhiêu”

Bởi vì:

“Lòng em một mực thương chàng
Dù đá có nát dù vàng có phai”
“Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh bông lý, nấu chè hạt sen”

Chỉ có tấm lòng yêu thương chân thực vô bờ bến, tấm lòng quảng đại vị tha mới khiến cho người phụ nữ vượt qua mọi gian khổ, chia sẻ gánh nặng với chồng:

“Đói no em chịu với chàng
Xuống sông, ra biển, lên ngàn cũng theo”

Với những chăm sóc rất tinh tế và kín đáo, người phụ nữ sẵn sàng hy sinh miễn sao chồng được hạnh phúc và khỏe mạnh:

“Miếng nạc thời để phần chồng
Miếng xương mẹ gặm, miếng lòng con ăn”

c. Người phụ nữ đóng góp cho sự thành đạt của chồng

Lịch sử cho thấy người PN VN không chỉ gánh vác núi công việc không tên trong gia đình, mà còn chăm lo công việc đồng áng, làng xã… mong sao cho chồng được thành đạt:

“Theo chàng em quyết từ đây
Nâng khăn sửa túi, ra tay giúp mình
Sớm hôm trong chốn gia đình
Tề gia nội trợ xin mình mặc em
Việc ngoài chàng gắng cho nên
Học hành đèn sách đua chen với đời
Vụng hèn phận thiếp cũng thời thơm lây”

Người chồng thành đạt, trở về về vinh quy bái tổ, một bước hai bước lên kiệu, thăng quan tiến chức, hữu dụng cho đời…Tất cả đều nhờ một phần đóng góp to lớn của người phụ nữ đứng phía sau họ. Hay nói cách khác, không có phụ nữ, thì người đàn ông khó có thể thành đạt một cách mỹ mãn trên đường đời.

Đối với người xa xứ, hình ảnh người mẹ, người vợ gắn liền với hình ảnh của quê hương đất nước. Sự gắn kết đó cũng tạo nơi tâm trí họ tình cảm dân tộc và những hình ảnh tích cực về một nơi chốn không thể phôi pha:

-“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai giãi nắng dầm sương
Nhớ tát nước bên đường hôm nao”

d. Giáo dục con cái

Trách nhiệm thiêng liêng của các bà mẹ Việt Nam nuôi dạy con cái từ tuổi bé thơ đến lúc trưởng thành, đã được xã hội ta đánh giá cao từ ngàn xưa đến nay: “cha sinh không bằng mẹ dưỡng”. Mẹ mang con trong dạ 9 tháng 10 ngày, nuôi con bằng dòng sữa yêu thương, ru con ngủ bằng những điệu hát ầu ơ,….Tiếng ru của mẹ đi vào giấc ngủ, động lại sâu lắng trong tiềm thức của con. Mẹ cho con những bài học đầu đời và thứ tình mẫu tử thiêng liêng để con biết kính trọng ông bà tổ tiên; để con biết yêu đất nước quê hương, thương anh em đồng loại; để mai đây khôn lớn và bay xa, con vẫn nhớ mãi một nơi chốn để quay về.

“Uống nước phải nhớ đến nhớ đến nguồn
Được ăn quả chín nhớ ơn người trồng”

Mẹ dạy con phải yêu thương đoàn kết:

“Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”,
“Khôn ngoan đá đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”

Mẹ dạy con nhân hòa với mọi người. Đó là cái gốc của đạo lý làm người, mà người mẹ mong muốn con phải sống trong suốt cuộc đời:

“Ra đi mẹ có dặn rằng
Ai hơn ta nhịn, ai bằng ta kiêng
Nhơn hòa ta để đầu tiên
Thì ta mới khỏi lụy phiền về sau”

Mẹ dạy con phong cách sống của người Việt Nam:

“Thà chết trong còn hơn sống đục”

Mẹ dạy con phải yêu quý lao động như lẽ sống ở đời:

“Tay làm, hàm nhai, tay quai miệng trễ”

Lướt qua một vài chấm phá trên, cho thấy trách nhiệm của các bà mẹ VN trong việc nuôi dạy con cái, được xã hội nhìn nhận và đánh giá rất cao. Câu “con dại cái mang” hay “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” cũng một phần nói lên con cái nên người hay không là lệ thuộc nhiều vào sự giáo dục của phụ nữ. Với trách nhiệm giáo dục cao cả ấy, người phụ nữ đã góp phần đào luyện những con người Việt Nam với những bản sắc văn hóa qua các thế hệ.

Gia đình là cái nôi của giáo dục, là nơi đầu tiên hình thành nhân cách của thế hệ tương lai. Một bà mẹ tốt là mối lợi cho gia đình và xã hội. Chính vì thế, người ta thường quan tâm đến sự thăng tiến của nữ giới trong các dự án giúp các nước chậm phát triển thoát khỏi đói nghèo. Đây là một sự đầu từ mang tính chất dài hạn cho sự phát triển của đất nước và nhân loại

II. VAI TRÒ VÀ SỨ MỆNH CỦA PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI

Từ khi Vua Hùng dựng nước và giữ nước, qua nhiều quốc biến, lịch sử hãy còn ghi dấu về nhân tính người phụ nữ VN thông minh, sáng tạo, cần cù lao động, dũng cảm chiến đấu chống ngoại xâm……. Qua chặng đường bốn ngàn năm hào hùng dân tộc, hình ảnh người phụ nữ VN đã có một chỗ đứng cao trọng trong nền văn học dân gian và được lưu truyền mãi cho thế hệ mai sau: Mẹ Âu Cơ đưa các con đi mở nước, dạy dân dựng làng; bà mẹ quê mùa kiên trì nuôi cậu bé Gióng “chậm lớn, chậm đi” và giúp con vững vàng trên lưng ngựa sắt đánh đuổi bạo thù; Nàng Quế Hoa, dùng đá làm vũ khí, tung hoành giữa đám giặc Ân...

Nguồn tư liệu khảo cổ học cũng bảo tồn những hình tượng thật về người phụ nữ “uy nghi chống nạnh trên chuôi kiếm” hoặc “nhịp nhàng giã cối, uyển chuyển đánh trống đồng”. Hình ảnh nổi bật về người phụ nữ Việt Nam cổ truyền là người nữ sĩ đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Sử thi phản ánh không khí anh hùng ca về những người phụ nữ can trường trong các cuộc đấu tranh, khởi nghĩa vũ trang chống xâm lược thời kỳ Bắc Thuộc và các thời kỳ khác: Hai Bà Trưng- dũng mãnh, hiên ngang trên bành voi; Bà Triệu -đánh đuổi quân Ngô; Thái hậu Dương Vân Nga – người anh thư đã tự tay tháo long bào, hy sinh danh tiếng và quyền lợi riêng tư cho sự tồn vong của đất nước; Ỷ Lan nguyên phi- đảm đang, chăm lo quốc sự, làm an lòng Vua Lý Thánh Tông đang thân chinh đánh giặc; đô đốc Bùi Thị Xuân – người nữ Bình Định kiên cường trong cuộc chiến chống quân Nguyễn...

Lịch sử dân tộc đã phải dành đến một phần ba thời gian cho 24 cuộc chiến tranh giữ nước vi quy mô cả nước và hàng trăm cuộc khởi nghĩa để giành độc lập, sử sách đã tốn nhiều giấy mực để khắc nét về người nữ VN hào hùng trên chiến tuyến:

“Trên đất nước nghìn năm chảy máu,
Nghìn năm người con gái vẫn cầm gươm”

Trong thời đại phong kiến, chế độ đa thê đã tước đoạt của người phụ nữ niềm hạnh phúc chính đáng về một gia đình trọn vẹn, đồng thời hạ thấp nhân phẩm của họ trong gia đình và xã hội. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã tố cáo chế độ hôn nhân phong kiến bất công, bằng thái độ rõ ràng, dứt khoát trong lời thơ sau:

“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công”

luật công chức

NỘI DUNG NGHỊ ĐỊNH 20/2010/NĐ-CP
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số.
Điều 2. Những trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con
1. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
2. Cặp vợ chồng sinh lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên.
3. Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên.
4. Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi.
5. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.
6. Cặp vợ chồng mà một hoặc hai người đã có con riêng (con đẻ), chỉ sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh. Quy định này không áp dụng cho trường hợp tái hôn giữa hai người đã từng có hai con chung trở lên và hiện còn đang sống.
7. Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh.
Điều 3. Trách nhiệm của các cơ quan
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, định kỳ 5 năm, công bố tên dân tộc có số dân dưới 10.000 người, tên dân tộc có tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết (dân tộc có nguy cơ giảm số dân).
2. Bộ Y tế ban hành danh mục dị tật, bệnh hiểm nghèo để xác định đối tượng theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị định này.



Điều 4. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29 tháng 4 năm 2010.
2. Bãi bỏ những quy định trái với quy định của Nghị định này.
Điều 5. Trách nhiệm thi hành
1. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn và tổ chức thi hành Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cặp vợ chồng, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
T.M CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
(Đã ký)
Nguyễn Tấn Dũng

"Theo Quyết định số 09/2006/QĐ-TTg ngày 10/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ, các địa phương có quyền xử lý nghiêm những cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; không đề cử, đề bạt và xem xét đưa ra khỏi các chức vụ lãnh đạo đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chính sách này".
(Luật sư Trần Thanh Phong, Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ).






Theo Báo Đất Việt
Theo chính sách hiện nay của Nhà nước ta là vận động mỗi gia đình chỉ nên có một đến hai con, tuy nhiên cũng có một số trường hợp vì lý do nào đó mà lỡ... sinh con thứ ba. Vậy nếu lỡ sinh con thứ ba thì pháp luật có quy định biện pháp chế tài gì không?
Vì:
- Theo Pháp lệnh Dân số, Nghị định số 104/2003-NĐ-CP ngày 16/9/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số và các văn bản pháp luật hiện hành không quy định chế tài hoặc biện pháp xử lý kỷ luật đối với người sinh con thứ ba trở lên. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 và Điểm a Khoản 3 Điều 17 của Nghị định số 104/2003/NĐ-CP nói trên thì mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có nghĩa vụ thực hiện quy mô gia đình ít con - có một hoặc hai con. Cũng tại Điểm a Khoản 1 Điều 5 của nghị định này thì các cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế, điều lệ hoặc các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật để thực hiện mục tiêu của chính sách dân số.
- Mới đây, Nghị quyết Bộ Chính trị tiếp tục quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Trong đó: "...Huy động toàn xã hội tham gia công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình. Nâng cao trách nhiệm và tăng cường sự phối hợp của các cấp, các ngành, đoàn thể nhân dân, đồng thời huy động các tổ chức xã hội và các thành phần kinh tế tích cực tham gia công tác này. Tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho mỗi gia đình, mỗi người dân tự nguyện thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Cán bộ đảng viên phải gương mẫu đi đầu thực hiện, đồng thời tuyên truyền, vận động gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, coi đó là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ, xem xét đề bạt, đề cử cán bộ vào các chức vụ lãnh đạo của các cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị xã hội. Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 và chỉ thị số 50-CT/TW ngày 6/3/1995...".
Như vậy, mặc dù pháp luật không quy định hình thức chế tài đối với người sinh con thứ ba, nhưng theo tinh thần các văn bản trên thì "Xem việc thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ, xem xét đề bạt, đề cử cán bộ vào các chức vụ lãnh đạo...".

Số đảng viên, cán bộ công chức sinh con thứ ba trở lên tăng nhiều nhưng không được xem xét xử lý nghiêm nên đang ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào thực hiện kế hoạch hoá gia đình. Sự tăng dân số nhanh đã ảnh hưởng rất lớn tới mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Việc bùng nổ sinh con thứ 3, nhìn nhận ở nhiều góc độ, chúng ta phải thừa nhận rằng Pháp lệnh Dân số vẫn còn những kẽ hở để nhiều cặp vợ chồng, thậm chí là công chức lợi dụng lách luật. Từ đầu năm 2009 đến nay, dù Pháp lệnh Dân số sửa đổi có hiệu lực nhưng tại một số tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng sinh con thứ 3 vẫn diễn ra khá phổ biến. ở Hậu Giang mới chỉ 3 tháng đầu năm đã có hơn 360 trường hợp cán bộ, công chức, viên chức sinh con thứ 3. Tại Tiền Giang, Cần Thơ, Kiên Giang, Cà Mau cũng xảy ra tình trạng này nhưng với số lượng ít hơn. Tiến sỹ Dương Quốc Trọng - Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình - Bộ Y tế cho biết: Việc sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số đã thể hiện rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong cuộc vận động dân số, kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản. Bởi một em bé được sinh ra sẽ kéo theo một loạt vấn đề về an sinh xã hội, đất đai, dịch vụ y tế, giáo dục, cơ hội việc làm... Có thể đối với một gia đình cụ thể, khá giả điều đó là bình thường nhưng sự bình thường đó không thể nhìn nhận ở góc độ nhà quản lý xã hội được. Đại diện Vụ Pháp chế - Bộ Y tế, nơi tham gia vào việc soạn thảo dự thảo Nghị định Quy định việc xử lý cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình đang được trình Chính phủ phê duyệt tiết lộ thông tin: Có nhiều điểm mới với những hình thức xử lý cương quyết, triệt để hơn. Cụ thể là cán bộ đảng viên phải gương mẫu thực hiện; cán bộ, viên chức, công chức sinh con thứ 3 sẽ bị cách chức nếu như đang giữ chức vụ lãnh đạo; bị cảnh cáo nếu không giữ cương vị lãnh đạo; sẽ không đề bạt, bổ nhiệm vào những vị trí lãnh đạo đối với người vi phạm chính sách dân số; sẽ không được chuyển ngạch công chức, kéo dài thời gian nâng lương; đối với những cán bộ, viên chức, công chức, đảng viên cố tình vi phạm, sinh con thứ 4 có thể sẽ bị buộc thôi việc.
Quế Ngân