Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012



PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN XUYÊN MỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN PHÚ








SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

      HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HÀNH TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH HỌC YẾU
TIẾNG VIỆT CUỐI BẬC TIỂU HỌC.



NGƯỜI VIẾT : NGUYỄN ĐÌNH HUY

                                                                





 TRẦN PHÚ  2011-2012

MỤC LỤC
A - PHẦN MỞ ĐẦU :
         I - Lý do chọn đề tài:
                  1.Cơ sở lí luận
                  2.Cơ sở thực tiễn
        II - Mục đích, phương pháp nghiên cứu:
                  1.Mục đích
                  2.Phương pháp
        III.Giới hạn của đề tài:
        IV.Các giả thiết nghiên cứu:
       
B - PHẦN NỘI DUNG
        I . Thực trạng và những mâu thuẫn:
                  1.Những thuận lợi
                  2.Những khó khăn
        II - Biện pháp thực hiện:
                  1.Các biện pháp
                  2.Thực hiện
       III . Hiệu quả áp dụng:
C - KẾT LUẬN
        I.Ý nghĩa của đề tài đối với công tác:
        II.Bài học kinh nghiệm:
        III.Đề xuất:
        Tài liệu tham khảo.







A - PHẦN MỞ ĐẦU
I - Lý do chọn đề tài:
   1.Cơ sở lí luận : Nhiệm vụ của người giáo viên tiểu học là cung cấp những kiến thức một cách toàn diện cho học sinh . Mỗi môn học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để phục vụ cho cuộc sống, học tập và sinh hoạt sao cho tốt nhất và có hiệu quả cao.
    2.Cơ sở thực tiễn :Được phân công dạy lớp 5, qua một thời gian giảng dạy tôi thấy học sinh của mình rất cố gắng học tập, đặc biệt là môn Tiếng Việt. Thực tế khi học đến từ loại Tiếng Việt thì nhiều em còn lúng túng. Với suy nghĩ: " làm thế nào để học sinh nắm chắc kiến thức này và tự tin trong học tập ?" nên tôi đã quyết định chọn đề tài: "Hướng dẫn học sinh thực hành về từ loại Tiếng Việt ...."

II - Mục đích - phương pháp nghiên cứu:
1.Mục đích :
a.Để giúp cho chúng ta thấy rõ vị trí quan trọng của từ loại Tiếng Việt.
b.Để giúp học sinh tiếp thu bài giảng một cách nhẹ nhàng, khắc  sâu kiến thức về từ loại.
2.Phương pháp: Qua sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, phương pháp giảng dạy phân môn và khảo sát thực tế để tìm ra cách giải quyết vấn đề nêu trên.
III.Giới hạn của đề tài :
- Trình độ nghiên cứu còn hạn chế.
- Thời gian nghiên cứu có hạn.
- Tài liệu tham khảo chưa được phong phú.
IV.Các giả thiết nghiên cứu :
        - Không phù hợp theo thuật ngữ vùng miền.
        - Không quan trọng vì là phân môn của tiếng việt.
B - PHẦN NỘI DUNG
I – Những thuận lợi và khó khăn :
  1.Thuận lợi:
a.Là giáo viên trực tiếp giảng dạy tiểu học.
b.Được đào tạo cử nhân tiểu học.
c.Làm việc trong môi trường có quản lí và đồng nghiệp am  hiểu về chuyên môn.
  2.Khó khăn:
a.Học sinh nói và viết sai nhiều ở thuật ngữ vùng miền, vì đa số có bố mẹ quê gốc Nghệ An, Hà Tĩnh.
b.Học sinh đọc rất kém mặc dù đã là học sinh lớp 5.
c.Khái niệm của học sinh về từ loại mơ hồ.
II – Các biện pháp giải quyết vấn đề:
        1.Biện pháp:
a.Nhằm khắc phục tình trạng do không phân định đúng ranh giới của từ mà học sinh xác định từ loại sai.
b.Hạn chế tình trạng học sinh không nắm được thuật ngữ "từ loại" nên không hiểu đúng yêu cầu của bài tập.
c.Giúp học sinh khi xác định từ loại tránh gặp khó khăn trong những trường hợp mà nghĩa của từ hoặc dấu hiệu hình thức không rõ ràng.
d.Tăng cường thời gian luyện tập, vì số tiết luyện tập về từ loại Tiếng Việt còn chưa được nhiều.
2 - Quá trình thực hiện :
Từ là đơn vị cơ bản của Tiếng Việt, có nghĩa và dùng để đặt câu.Từ do tiếng tạo thành.
Nếu từ chia theo cấu tạo thì là từ đơn, từ ghép hay từ láy.
Nếu từ chia theo từ loại thì là danh từ, động từ, tính từ...
Nắm dược điều này các em hiểu rõ nghĩa của từ, phân biệt được và có kiến thức để tìm các phụ từ như Định ngữ, Bổ ngữ...

          Biện pháp giúp học sinh nắm chắc lí thuyết về từ loại:
2.1Danh từ:
a.   Danh từ là từ chỉ người, sự vật, hiện tượng.
Ví dụ:
·   Chỉ người: Anh , chị. học sinh...
·   Chỉ vật: Nhà, bàn, ghế, cây,...
·   Chỉ hiện tượng: Gió, bão, hoà bình...
b.   Muốn biết một từ có phải là danh từ không thì cần phải thử xem:
·   Thêm vào trước nó một từ chỉ số lượng (một, hai, vài, những,các...) xem có được không, nếu được thì đó là một danh từ.
Ví dụ: Hai học sinh
·   Thêm vào sau nó một từ chỉ trỏ (nay, ấy, kia, đó...) xem có được không nếu được thì đó là một danh từ.
Ví dụ: Học sinh ấy
c.    Danh từ có nhiều loại:   phân biệt danh từ chung với danh từ riêng:.Danh từ chung: là tên gọi chung của một loại sự vật.
VD: Học sinh, công nhân, thành phố...
1.   Danh từ riêng: là tên gọi riêng của một loại sự vật.
VD: Võ Thị Sáu, núi Trường Sơn...
·   phân biệt danh từ cụ thể với danh từ trừu tượng
2.   Danh từ cụ thể: chỉ những sự vật mà ta có thể nhận ra được bằng giác quan (nhìn, nghe,ngửi, thấy, đếm được...)
VD: Nhà, tủ ...
3.   Danh từ trừu tượng: chỉ những sự vật mà ta nhận ra được bằng suy nghĩ chứ không phải bằng các giác quan.
VD: Niềm vui, đạo đức, thái độ...
d.Trong câu, danh từ (Đứng một mình hoặc kèm theo các từ phụ thuộc) có thể làm nhiều chức vụ khác nhau: Làm chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ.
2.2. Động từ:
a. Động từ chỉ hoạt động hay trạng thái của người, sự vật.
VD: Ngủ, chạy...
b. Có hai loại động từ:
4.   Động từ chỉ trạng thái, hoạt động do người hay sự vật thực hiện, không ảnh hưởng tới người hay sự vật khác gọi là động từ nội động.
VD: Em bé ngủ.
5.   Động từ chỉ hoạt động của người hay sự vật thực hiện có ảnh hưởng đến người hay sự vật khác gọi là động từ ngoại động
VD: Bác nông dân đang gặt lúa.
·   Các động từ: có, là, bị, được...
6.   Động từ "bị"và "được" chỉ trạng thái tiếp thu
7.   Động từ "có" chỉ trạng thái tồn tại hặc sở hữu
8.   Động từ "là" chỉ được dùng trong câu giới thiệu , nhận xét, đánh giá.
2.3.Tính từ:
a. Tính từ là từ chỉ tính chất của người, loài vật, đồ vật, cây cối như: màu sắc, hình thể, khối lượng, kích thước, dung lượng, phẩm chất...
        Ví dụ :  - Xanh, đỏ, xanh biếc, đỏ thắm (chỉ màu sắc)
9.   Vuông, tròn, thon (chỉ hình thể)
10.         To, nhỏ,dài, ngắn...(chỉ kích thước)
11.         Nặng,nhẹ, nhiều, ít...(chỉ khối lượng, dung lượng)
12.         Tốt, xấu, thông minh...(chỉ phẩm chất)
b. Có hai loại tính từ:
        -Tính từ chỉ tính chất chung, không có mức độ:
Ví dụ: Xanh, đỏ, dài, tốt...
13.         Tính từ chỉ tính chất có xác định mức độ hoặc có tác dụng gợi tả hình ảnh, cảm xúc.
Ví dụ: Xanh biếc, gầy nhom, chi chít...
        2.4. Đại từ:
a. Đại từ dung để thay thế cho danh từ,động từ hoặc tính từ trong câu.
Ví dụ: Cú chẳng có tổ, phải sống trong những hốc cây tăm tối,
b.Trong giao tiếp người ta có thể dùng đại từ để xưng hô. Đó là  đại từ chỉ ngôi. các đại từ chỉ ngôi thường dùng là :
        Ngôi thứ nhất: Tôi, chúng tôi, tao, chúng tao
        Ngôi thứ hai : mày , chúng mày…
        Ngôi thứ ba : nó, chúng nó …
* Danh từ chỉ người cùng thường được dùng trong xưng hô như đại từ chỉ ngôi.
     VD: anh , chị , ông , bà
        5. Số từ – Phó từ – Từ chỉ quan hệ – Từ cảm
a. Số từ là từ chỉ số lượng hoặc thứ tự.
        - Chỉ số lượng : một , hai , vài , dăm…
        - Chỉ thứ tự : thứ hai , thứ tư…

b. Phó từ : là những từ đi kèm danh từ, động từ , tính từ để bổ sung một số ý nghĩa cho các từ ấy.
        VD: các môn học, rất giỏi, đẹp lắm , khoảng bốn mươi kg
                PT                  PT                PT     PT

c. Từ chỉ quan hệ (quan hệ từ , từ nối)
        Từ chỉ quan hệ là từ dùng để nối các từ trong câu, các vế câu trong một câu ghép …
        VD: Nam và Bình đi học
                Nam lười học nên bạn bị điểm kém.

d.   Từ cảm dùng làm dấu hiệu cho các cảm xúc, tình cảm. thái độ hoặc mục đích của người nói , người viết . VD: ôi, ạ, dạ , vâng , nhé , nhỉ
14.          Các từ gọi hộ : ôi , hỡi , này , thưa…
15.          Các từ đáp lời : vâng , dạ, bẩm , ừ…
16.          Các từ cảm thán : ôi , chao ôi, ai chà, ối , ối giờ ơi…
17.          Các từ làm dấu hiệu cho mục đích , thái độ khi nói hoặc viết : hả , hử , nào , đi ,  thôi, cơ , kia mà…
III. Hiệu quả áp dụng:
      Để học sinh nắm vững lý thuyết giáo viên cần sử dụng nhiều phương pháp dạy học có hiệu quả (Đặc biệt tiết ôn tập cần lập bảng ôn tập từ loại để học sinh có sự phân biệt rõ các từ loại đã học ). Để học sinh được ôn luyện kiểm tra,thử thách kiến thứcvề từ loại, kĩ năng xác định và sử dụng đúng từ loại , giáo viên cần áp dụng các bài tập sau đây :
1. Dạng thu nhất:
        * Xác định từ loại cho từ
        Kiểu 1: Cho sẵn các từ, yêu cầu học sinh xác định từ loại của các từ đó.
        VD: Xác định từ loại của các từ sau: niềm vui, vui tươi, vui chơi, tình yêu , yêu thương, đáng yêu.
        Để xác định từ loại của những từ này, ta xét ý nghĩa (chỉ đối tượng , chỉ hành động hay chỉ tính chất) cũng như thử các khả năng kết hợp của chúng.Có thể nói :
        - những niềm vui             - rất yêu thương
        - hãy vui chơi                  - tình yêu ấy
        - hãy yêu thương             - rất đáng yêu
Sau đó học sinh trình bày:
        DT                           ĐT                            TT
     Niềm vui                vui chơi                      vui tươi
     Tình yêu                  yêu thương                đáng yêu

        Kiểu 2: Xác định từ loại trong đoạn thơ văn có sẵn:
VD: Xác định động từ , danh từ , tính từ trong hai câu thơ của Bác Hô:
        “ Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay
        Vượn hót chim kêu suỗt cả ngày”
·   Ở bài tập này , học sinh cần phải xác định các từ rồi xét ý nghĩa và các khả năng kết hợp của từ rồi xếp :
18.         danh từ : cảnh , rừng , Việt Bắc, vượn , chim , ngày
19.         động từ: hót, kêu
20.         tính từ : hay

2. Dạng thứ hai :
Muốn cho học sinh xác định từ loại chính xác và khắc phục việc phân định danh giới của từ không chính xác, ta đưa ra bài tập mà học sinh còn hay nhầm để các em sửa.
VD: Tìm tính từ trong khổ thơ sau:
        Việt Nam đẹp khắp trăm miền,
        Bốn mùa một sắc trời riêng đất này.
        Xóm làng , đồng ruộng , rừng cây,
        Non cao gió dựng , sông đầy nắng chang
        Xum xuê xoài biếc . cam vàng
        Dừa nghiêng , cau thẳng , hàng hàng nắng soi.
* Ở bài tập này học sinh xác định các tính từ : đẹp , cao, đầy , xum xuê, nghiêng , thẳng một cách dễ dàng. Khi xét đến : “trời riêng” , “xoài biếc”, “nắng chang”các em lúng túng không biết đây là một từ hay hai từ nên nhiều em xác định từ loại sai. Vậy giáo viên phải củng cố và khắc sâu kiến thức này: chỉ cho các em biết đây là hai từ đơn và các tính từ là “riêng” “biếc” “chang”.
3. Dạng thú ba :
Khắc phục khó khăn của học sinh khi xác định từ loại trong những trường hợp mà nghĩa hoặc dấu hiệu hình thứ từ loại không rõ ta có thể cho học sinh làm dạng bài tập:
        VD: Xác định từ loại của các từ trong các thành ngữ sau:
                                Đi ngược , về xuôi
                                Nước chảy , đá mòn
Các từ loại học sinh xác định nhanh và rõ ràng chính xác là “đi,về”động từ , “nước ,đá” là danh từ. Nhưng các từ “ngược”, “xuôi”, “ mòn” các em lúng túng và hay xếp các từ này vào loại tính từ. Vậy giáo viên phải phân tích ý nghĩa của từ và hướng dẫn học sinh xếp từ “ngược” “xuôi” là chỉ vùng núi và vùng đồng bằng nên xếp các từ này là danh từ. Còn từ “mòn” là động từ chứ không phải là tính từ.
Lưu ý: ở dạng này học sinh có thể cho thêm một số ví dụ để xác định từ loại.
4. Dạng thứ tư:
Khắc sâu thuật ngữ “từ loại” ta cho học sinh làm dạng từ loại sau:
Ví dụ: Cho các từ sau: núi đồi , rực rỡ, chen chúc, vườn , diụ dàng, ngọt , thành phố, ăn, đánh đập. Hãy xếp những từ trên thành các nhóm theo hai cách:
        a, Dựa vào cấu tạo (từ đơn, từ ghép , từ láy)
        b, Dựa vào từ loại ( danh từ , động từ, tính từ)
* Ở bài tập này học sinh phải củng cố về kiến thức thế nào là chia từ theo cấu tạo và thế nào là chia từ theo từ loại. Các em sẽ dễ dàng làm được.
- Nếu xếp theo cấu tạo từ, ta sẽ xếp như sau:
        + Từ đơn : vườn , ăn , ngọt
        + Từ ghép: núi đồi , thành phố , đánh đập
        + Từ láy: rực rỡ, dịu dàng , chen chúc
-Nếu xếp theo từ loại, ta sẽ xếp như sau:
        + Danh từ : núi đồi, thành phố, vườn
        + Động từ : chen chúc, đánh đập , ăn
        + Tính từ : rực rỡ, dịu dàng, ngọt.
5. Dạng thứ năm:
Chuyển từ loại theo một kiểu cấu tạo nào đó
Ví dụ 1: Xác định từ loại của các từ sau: - vui,buồn, đau khổ, đẹp
                                - niềm vui , nỗi buồn, cáI đẹp , sự đau khổ
* Ở bài tập này , học sinh phảI nắm được các từ “ vui , buồn , đau khổ” là các động từ chỉ trạng thái. Còn từ “đẹp” là tính từ.
        Phải nắm được quy tắc cấu tạo từ: sự, cuộc , nỗi , niềm đi kèm với động từ hoặc tính từ thì tạo thành một danh từ mới. Đó là các danh từ trừu tượng “niềm vui”, “ nỗi buồn”, “sự đau khổ”, “ cái đẹp”
Ví dụ 2:
“ Sầu riêng thơm mùi thơm của mít chín quyện với hương bưởi , béo cái béo của trứng gà, ngọt cái ngọt cuả mật ong già hạn”
a)   Hãy tìm các tính từ có trong câu văn.
b)  Nhận xét các từ loại: cái béo, mùi thơm
* Ở bài tập này học sinh cần vận dụng kiến thức về quy tắc cấu tạo từ và ý nghĩa của từ để xác định từ loại và tìm được các tính từ trong bài là : “ thơm”
“béo”, “ ngọt”, “già”
Nhờ có sự kết hợp từ : cái béo, mùi thơm… là các danh từ.
6. Dạng thứ sáu:
Tuỳ trong văn cảnh mà từ loại cũng có thể thay đổi.
        Ví dụ : Xác định từ loại của từ “ danh dự” trong câu văn sau:
“ Ngay thềm lăng, mười tám cây vạn tuế tượng trưng cho một đoàn quân danh dự đứng trang nghiêm”
*Ở bài tập này học sinh phải dựa vào ý nghĩa cuả từ trong văn cảnh.
        - Từ “danh dự” vốn là danh từ
        -Trong câu văn: Từ được sử dạng để chỉ đặc điểm nên ta xếp từ “ danh dự” vào từ loaị là tính từ.
7. Dạng thứ bảy:
Thay thế danh từ bằng đại từ chỉ ngôi.
Ví dụ : Thay thế danh từ bằng đại từ chỉ ngôi thích hợp để câu văn không bị lặp.
a) Một con quạ khát nước , con quạ tìm thấy một cái lọ.
b) Tấm đi qua cầu , Tấm vô ý đánh rơi chiếc giày xuống nước.
* Học sinh phải có nhận xét danh từ được lặp lại.
 - Ở câu a là “ con quạ”
         - Ở câu b là Tấm
Việc lặp từ làm cho câu văn không hay vậy ta có thể thay các danh từ bị lặp lại đó bằng các đại từ thích hợp. Từ “ con quạ” có thể thay bằng đại từ “nó”.
Từ “ Tấm” có thể thay bằng từ “nàng”.
8.Dạng thứ tám:
Xác định chức vụ ngữ pháp của một từ loại khi nó đứng ở những vị trí khác nhau. Ví dụ : Xác định từ loại của từ thật thà và chỉ rõ nó giữ chức vụ ngữ pháp trong câu.
a)   Bạn Hà rất thật thà.
b)  Tính thật thà của bạn Hà khiến ai cũng mến.
c)   Bạn Hà ăn nói thật thà dễ nghe.
d)  Thật thà là phẩm chất đẹp đẽ của bạn Hà.
·   Ở bài tập này , học sinh dựa vào ý nghĩa của từ để xác định “thật thà” là tính từ.
21.          Ở câu a: từ giữ chức vụ vị ngữ
22.          Ở câu b: từ giữ chức vụ định ngữ
23.          Ở câu c: từ giữ chức vụ bổ ngữ
24.          Ở câu d: từ giữ chức vụ chủ ngữ


9. Dạng thứ 9:
        Học sinh biết vận dụng từ loại để đặt câu.
Ví dụ : Đặt một câu có tính từ làm vị ngữ và một câu ó tính từ làm định ngữ.
·   Ở bài tập này học sinh phải nắm vững kiến thức về từ loại và kiến thứ đặt câu và có thể đặt như sau
        - Anh bộ đội rất dũng cảm
                                VN
25.          Bạn Hà có chiếc cặp mới
                               ĐN
10. Dạng thứ mười:
Tổ chức các trò chơi để củng cố kiến thức từ loại.
        1.Trò chơi thứ nhất : “ Ai nhanh , ai đúng”
a- Chuẩn bị: Các băng giấy có ghi sẵn từ.
        Hai bảng phụ có kẻ sẵn 3 cột : Danh từ , Động từ . Tính từ.
b- Cách tiến hành: Chọn hai đội chơi, mỗi đội có 5 em, xếp hai hàng.
        Đặt tên cho hai đội. Mỗi em sẽ nhặt một băng giấy và gắn vào cột từ loại. Đội nào nhanh chính xác sẽ thắng. Các em khắc cổ vũ cho hai đội chơi.
        * Mục đích của trò chơi: Củng cố kiến thứ từ loại, rèn tư duy nhanh.
        2- Trò chơi thứ hai:
VD1: “ Điền danh từ”    
a-Chuẩn bị hai bảng phụ có chép sẵn và các băng giấy có ghi các danh từ cần điền : con diều , con sóng, con tàu , con thuyền, con mắt.
Các dòng thơ được chép sẵn trên bảng phụ:
……… cưỡi sóng ra khơi.
……… chao lượn ngang trời hè vui.
……… dừng lại sân ga.
Đầy vơi………… hiền hoà dòng sông.
……… của sổ tam hồn.
b- Cách tiến hành:
Chọn 5 em một đội và có 2 đội thi. Nếu đội nào gắn các danh từ đúng và nhanh sẽ thắng.
  * Mục đích: Luyện điền nhanh danh từ dựa vào ý nghĩa của câu thơ.
VD2: “ Điền động từ”
a) Chuẩn bị:
        - Các động từ được ghi sẵn vào các băng giấy : vỗ , tha , nhuộm , đánh thức , dậy, rải.
        - Ghi vào 2 bảng phụ hoặc 2 tờ giấy to đoạn thơ:
                “ Tiếng chim ……. lá cành
        Tiếng chim …… chồi xanh … cùng.
                   Tiếng chim …… cánh bầy ong
        Tiếng chim …… nắng  … đồng vàng thơm”.
b) Cách tiến hành: Chọn 2 đội chơi , mỗi đội có 4 học sinh. Mỗi học sinh điền một dòng thơ cho đúng. Sau đó mỗi đội cử một bạn đọc diễn cảm đoạn thơ, biết nhấn mạnh vào các động từ vùa điền. Tính điểm mỗi đội có 2 phần :
        - Điền nhanh , đúng.
        - Đọc thơ hay.
* Mục đích của trò chơi: Luyện tập sử dụng động từ đúng chỗ nhằm hoàn thiện nội dung đoạn thơ gợi tả tiếng chim buổi sớm và cản nhận được cách dùng từ sinh động trong đoạn thơ hay.
VD3: “ Điền tính từ”
a) Chuẩn bị:
-        Ghi các tính từ chỉ màu trắng ra các băng giấy: trắng phau, trắng bệch, trắng xoá , trắng hồng, trắng nõn, trắng bạc.
-        Viết các câu có chỗ trống trên bảng phụ.
Giáo viên gắn các từ nhưng sai ý nghĩa vào chỗ trống ( 2 bảng gắn các từ khác nhau)
b) Cách tiến hành:
Chọn 2 đội chơi , mỗi đội có 6 em .
Mỗi em lên sửa lại một câu. Nếu còn thời gian các em vẫn liên tiếp lên sửa
lại cho đến khi hết giờ.
Đáp án:
                Tuyết rơi trắng xoá một màu
            Vườn chim chiều xế trắng phau cánh cò.
                Da trắng bệch , người ốm o
            Bé khoẻ đôi má non tơ trắng hồng.
                Sơn len trắng nõn như bông
            Làn mây trắng xoá bồng bềnh trời xanh.
·               Mục đích: Luyện cách dùng tính từ chỉ màu trắng với các sắc độ khác nhau có tác dụng gợi tả. Làm giàu vốn từ chỉ màu trắng thường dùng trong các đoạn văn miêu tả.

C. Phần kết luận:
I. Ý nghĩa của đề tài đối với công tác:
        Qua việc cung cấp kiến thức cơ bản về từ loại và  học sinh thực hành các dạng bài tập về xác định và sử dụng từ loại đối với học sinh lớp 5 , tôi nhận thấy:
    1. Học sinh đã nắm vững về thuật ngữ từ loại.
2.   Phân biệt các từ loại cơ bản: danh từ, động từ, tính từ  nhanh, chính xác.
3.   Biết sử dụng các từ loại trong câu văn đúng chỗ.
4.   Tự tin , hào hứng khi học đến phần này.
5.   Kết quả môn học được nâng cao.


II.Bài học kinh nghiệm :
Lớp 5 là lớp cuối cấp của bậc tiểu học. Vì vậy các em cần có kiến thức Vững chắc về từ loại Tiếng Việt để có thể học tốt ở trung học cơ sở. Là một giáo viên tiểu học, tôi đã lưu ý nghiên cứu nội dung và phương pháp truyền thụ, có một hệ thống các bài tập giúp học sinh thực hành để củng cố kiến thức này. Đặc biệt luôn phải lấy học sinh làm trung tâm, khuyến khích các em tìm tòi và tự rút ra những kết luận cho mình.Có như vậy, các em mới nhớ kỹ, nhớ lâu những kiến thức mới khám phá. Đặc biệt , tôi rất chú ý thời điểm và thời lượng tung ra các dạng bài tập phù hợp và tổ chức các trò chơi phù hợp. Vì vậy nên bước đầu có những kết quả trong giảng dạy Tiếng Việt.

III.Đề xuất:
        Do thời gian và trình độ còn hạn chế . Vì vậy không tránh khỏi còn thiếu sót.
        Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của Quý cấp.
                        Tôi xin chân thành cảm ơn !
                                Trần Phú,  ngày  20    tháng 2     năm 2012
                                                            Người viết :


                                                        Nguyễn Đình Huy



Tài liệu tham khảo :
Sách giáo khoa,một số tài liệu tham khảo ngoài sách giáo khoa , phương pháp giảng dạy phân môn và khảo sát thực tế để tìm ra cách giải quyết vấn đề nêu trên.






Thứ Hai, 13 tháng 2, 2012

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2011


Mục tiêu giáo dục tiểu học Mỹ
Cho dù là người Hoa ở Mỹ, bạn cũng khó hiểu rõ được đâu là trình độ tri thức mà học sinh tiểu học ở Mỹ phải đạt đến, sau đây chỉ là một tiêu chuẩn sơ lược để tham khảo.
1. Tốt nghiệp mẫu giáo
Có thể nhận biết và phân biệt con số, có thể biểu đạt khái niệm toán học trừu tượng bằng những vật thể cụ thể như hòn sỏi, mẩu giấy, cái que…; nhận biết 26 chữ cái tiếng Anh, phân biệt nguyên âm và phụ âm; phân biệt được các ngành nghề khác nhau đại ý làm những gì, ví dụ như bác sĩ, giáo viên, người đưa thư, cảnh sát, cảnh sát phòng cháy chữa cháy… hiểu được quá trình diễn biến của cuộc đời sinh vật, bao gồm sinh, lão, bệnh, tử của con người, sâu biến thành bướm,…; học địa lý từ địa cầu, bản đồ; hiểu được rằng trên trái đất có rất nhiều cư dân, rất nhiều quốc gia và những màu da khác nhau, hiểu được rằng người cần ở trong nhà, trẻ em cần đến trường, người trưởng thành cần đi làm…
2. Lớp 1
Có thể đếm từ 1 đến 100, có thể đếm số có hai chữ số hoặc thế nào là bội số của 5, biết số lẻ và số chẵn, biết phép cộng trừ đơn giản; học cách quan sát, chia ngành phân loại đối với những sự vật và vật phẩm khác nhau; có thể lấy dẫn chứng về quá trình diễn biến của sự sống, hiểu được quan hệ sống tương trợ giữa động thực vật trong thiên nhiên; học sử dụng tranh ảnh để biểu đạt ý; hiểu tính tất yếu của việc mặc, ăn, ở và mái ấm gia đình; hiểu rõ quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, giữa những người làng xóm.  
3. Lớp 2
Biết đọc, viết số có ba chữ số, từ năm số tùy ý chọn, có thể đếm xuôi hoặc đếm ngược; vận dụng thành thạo phép cộng trừ đối với số có hai chữ số, biết dùng những đơn vị đo lường như inch (tấc Anh) hoặc centimet để đo độ dài, biết xem đồng hồ; đọc sách, duy trì đều đặn việc viết (nhận xét, bình luận) sau khi đọc sách, học cách viết tổng kết, hiểu và phân biệt được những hình thức văn học khác nhau như: thơ, tản văn, tiểu thuyết, truyện ký…, biết được sự khác nhau giữa tác phẩm hư cấu và tác phẩm phi hư cấu; bắt đầu học nghiên cứu độc lập về động vật, ví dụ như vấn đề sinh thái của côn trùng…
4. Lớp 3
Học được cách biến tư liệu thành biểu đồ; biết so sánh sự lớn nhỏ và cộng trừ trong phạm vi 100.000, thành thạo phép cộng, trừ, nhân, chia đối với số có ba chữ số; có thể lấy những tài liệu tại chỗ trong môi trường xung quanh, sưu tập, tổ chức tài liệu, hiểu được cách giữ gìn sức khỏe của con người, hiểu rõ quá trình diễn biến cuộc đời của những động vật nhỏ như: ếch, bướm, gà con, chuột bạch…; hiểu cách sử dụng tự điển; có thể hiểu tư tưởng của những tác phẩm và các nhà văn, họa sĩ mình yêu thích biểu đạt, hiểu được các tác phẩm văn học trong các bối cảnh văn hóa khác nhau.
5. Lớp 4
Dùng máy tính để tính toán những con số rất lớn, so sánh lớn nhỏ trong phạm vi 1.000.000, học số thập phân và phân số, vẽ biểu đồ; có thể giải thích sự khác nhau của khí hậu giữa các vùng đất trên thế giới nhờ bản đồ, hình ảnh, biểu đồ; thông qua việc đọc, hiểu thêm một bước về những thể loại văn học khác nhau, ví dụ như tác phẩm khoa học viễn tưởng, truyện ký,…
6. Lớp 5
Biết điền, đọc các loại bảng biểu, thành thạo các phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số; có thể vận dụng hệ thống thư viện và các tư liệu để tiến hành nghiên cứu; tiến hành so sánh và tổng hợp các loại tin tức thông qua việc viết bút ký; bắt đầu tự viết những bài văn dạng tả thật (phi hư cấu) và những đoản văn theo thể thức năm đoạn; học được cách viết chính thức, không chính thức và cách viết thư cho bạn bè; hiểu việc chia ngành phân loại những sách báo khác nhau, có thể nắm được nội dung chủ yếu của một cuốn sách, đồng thời tiến hành bình luận về cấu tứ, bối cảnh, cách xây dựng nhân vật, phương thức biểu đạt, nghệ thuật ngôn ngữ.  
Giá trị cơ bản của văn hóa Mỹ
Có lẽ nhiều người trong chúng ta sẽ có cảm giác rằng, một học sinh học lớp 5, chuẩn bị tốt nghiệp tiểu học mà yêu cầu về năng lực toán học chỉ là biết cộng, trừ, nhân, chia, thì trình độ… thấp quá.
Một cô giáo mẫu giáo về hưu thấy học sinh tiểu học Mỹ suốt ngày “chỉ biết chơi” thì không khỏi ngạc nhiên và lo lắng cho cậu cháu Hoa kiều ở Mỹ của mình. Bà nói với mẹ của cậu bé: Nếu là ở Trung Quốc, áp lực của học sinh chuẩn bị tốt nghiệp tiểu học rất lớn, cả ngày phải cắm đầu vào làm bài tập… Nhưng cháu tôi thì sao? Mỗi ngày tan học về là đi đá bóng, chơi bóng bầu dục cùng lũ trẻ… thời gian cho việc làm bài, tập đàn ít như thế, làm mẹ thì phải chú ý!
Người mẹ nói, thành tích của cháu ở trường hầu như là điểm A, trừ đôi khi ngẫu nhiên sai sót, nhiều lần cháu đem về toàn điểm 100. Đối với học sinh tiểu học ở Mỹ thì như vậy là đủ rồi. Giáo dục tiểu học không phải là giáo dục tinh anh, cần tạo điều kiện phát triển toàn diện cho trẻ, chú trọng việc kết bạn, vận động và những hoạt động ngoại khóa.
Đương nhiên, người bà của cậu bé vẫn không bằng lòng, bà nói bài giảng của Mỹ quá nhẹ nhàng, bài tập quá đơn giản, thì chắc thi cử cũng rất dễ dàng. Bà nhấn mạnh, người Trung Quốc chúng tôi coi trọng các nền tảng cơ sở vững chắc. Kỳ thực, người Mỹ cũng coi trọng việc xây dựng nền tảng.
Chỉ có điều cái gọi là “cơ sở” của người Trung Quốc và người Mỹ khác nhau. Người Mỹ coi trọng nền tảng làm người, quan niệm này đã được bồi đắp từ nhỏ. Cơ sở mà học sinh ở Mỹ cần tạo dựng là ý thức tự tin, thành thực, lương thiện, công bằng, bao dung và độc lập tự chủ để làm người, cũng có nghĩa là, ngay từ nhỏ, họ đã học được giá trị cơ bản của văn hóa Mỹ, chứ không phải là tri thức để phục vụ giá trị cơ bản này.  
Tuy nhiên, cũng phải nói thêm là có rất nhiều người Trung Quốc suy nghĩ như người bà kể trên, coi giáo dục trung tiểu học ở Mỹ là “hỏng bét”, mà nhiều nhất trong số đó không ai khác chính là những giáo viên trung tiểu học ở Trung Quốc. Cái mà họ đắc ý là những học sinh đứng đầu trong danh sách đoạt giải thưởng toán quốc tế hàng năm luôn là những học sinh Trung Quốc, giáo dục trung tiểu học ở Mỹ không thể so sánh được với Trung Quốc. Có lần, trên một tờ báo Trung văn ở Mỹ còn có một bài viết mang tên: “So về toán học, Mỹ chỉ có thể được coi là nước đang phát triển”.  
Trong một cuộc họp của người Hoa, các bậc cha mẹ nhớ lại những câu chuyện thời trẻ của mình, một nữ sĩ đã thẳng thắn nói, tiêu chuẩn chọn chồng khi đó dường như đều phải là “học giỏi”, cũng có nghĩa là “thành tích tốt”, ngoại hình, tính tình, tu dưỡng đều là thứ yếu. Trong mắt của các nữ sinh chỉ có những người đứng đầu lớp mới là tốt, người đứng đầu toàn năm lại càng tốt.
Nhưng giờ đây, thế hệ sau của chúng ta thì sao? Nếu như bạn hỏi ai là bạn nam có thành tích học tập tốt nhất trong lớp thì con gái bạn ắt trở nên lúng túng, nhưng nếu hỏi, bạn nam nào giỏi thể thao nhất trường, thì con bạn sẽ rõ như lòng bàn tay vậy. Nếu bạn tâng bốc một cô gái xinh đẹp nào đó, bảo rằng cô sẽ lấy được một trạng nguyên, thì cô gái sẽ cho rằng không xứng đáng, thậm chí còn cảm thấy thua thiệt, “Cái gì, ai thèm cái đồ mọt sách đó?”.
Những người học giỏi nhất (nếu chỉ biết học tập, không có sở thích, sở trường nào khác) thường bị bạn bè cô lập. Để tránh mất đi tình bạn, để được biết đến nhiều hơn, được hoan nghênh nhiều hơn, không ít học sinh xuất sắc đã từ chối học các lớp chất lượng cao (lớp vinh dự), sợ mất đi những người bạn cũ từ lớp phổ thông, thậm chí có một số học sinh còn cố tình làm bài sai trong kỳ thi để hòa đồng với bạn bè. Trong mắt của bọn trẻ, bạn bè, tình bạn, niềm vui quan trọng hơn thành tích rất nhiều.  
“Độ khó” trong bài tập của học sinh tiểu học Mỹ
Một người cha Trung Quốc đưa cậu con trai chín tuổi tới Mỹ, cho con vào học một ngôi trường ở Mỹ thì trong lòng lo lắng vô cùng, không hiểu đó là trường học kiểu gì! Trong lớp học sinh tự do tùy ý thảo luận, có thể cười ầm ĩ; giáo viên và học sinh thường xuyên cùng ngồi bệt trên mặt đất không phân biệt lớn bé; vào giờ học mà cứ như đang chơi trò chơi; Ba giờ chiều đã là tan học; lại không có sách giáo khoa thống nhất.
Ông đem cho giáo viên xem bài học tiểu học lớp 4 mà con ông đã học ở Trung Quốc, giáo viên nói với ông, cho tới lớp 6, con trai ông không phải học thêm môn toán nữa. Lúc đó, ông bắt đầu hối hận vì đem con đến Mỹ mà làm lỡ việc học của con. Ở Trung Quốc, cặp sách của học sinh nặng trịch những tri thức, còn nhìn con mình bây giờ, mỗi ngày mang cái cặp nhẹ tênh đến trường, đi học như đi chơi. Một học kỳ nháy mắt đã hết, ông không khỏi nghĩ ngợi, hỏi con, ấn tượng sâu sắc nhất khi đến Mỹ học là gì? Cậu bé đáp: “Tự do”.  
Lại một bận, cứ tan học, đứa trẻ lại chạy tới thư viện rồi mang một lô sách về nhà, thế mà chưa tới hai ngày đã trả. Ông lại hỏi, mượn sách nhiều như thế để làm gì? Con trai đáp: “Làm bài tập”. Sau đó, ông nhìn thấy tên bài tập mà cậu bé đang làm trên máy vi tính “Hôm qua và hôm nay của Trung Quốc”, ông kinh ngạc suýt ngã, đây là chủ đề môn học gì vậy? Thử hỏi vị nào đang làm tiến sĩ dám “ôm” đề tài lớn như thế?
Ông chất vấn con trai, đây là chủ ý của ai, cậu bé hồn nhiên đáp: “Thầy giáo nói, Mỹ là một nước di dân, mỗi học sinh đều cần viết một bài về đất nước mà tổ tiên mình đã sinh sống, còn phải phân tích sự khác biệt so với nước Mỹ dựa trên địa lý, lịch sử, nhân văn, đồng thời phải đưa ra quan điểm và cách nhìn của mình”. Người cha im lặng.
Mấy ngày sau, ông thấy bài tập của con trai đã xong, một tập gồm hơn 20 trang giấy, từ Hoàng Hà chín khúc đến văn tự tượng hình; từ con đường tơ lụa tới lá cờ ngũ tinh… Cả bài văn được viết với một khí thế hào hùng, có lý lẽ, có căn cứ, phân chương phân tiết, đặc biệt là một danh sách thư mục tham khảo ở phần cuối khiến người cha không khỏi bàng hoàng, cái cách thức của một luận văn tiến sĩ này, ngoài ba mươi tuổi ông mới học được.
Đến khi sắp kết thúc học kỳ lớp 6 của con, ông lại được một phen cứng lưỡi, giáo viên đưa ra một loạt câu hỏi liên quan đến “Chiến tranh thế giới thứ hai”, nghe như một kỳ huấn luyện trước khi ứng cử của một thượng nghị sĩ tương lai:
“Bạn cho rằng ai nên chịu trách nhiệm đối với cuộc chiến tranh này?”
“Theo bạn, nguyên nhân thất bại của đảng Nazi (Đức) là gì?”
“Nếu bạn là cố vấn cao cấp của tổng thống Truman1, bạn sẽ tỏ thái độ gì đối với việc Mỹ ném bom nguyên tử?”
“Bạn có cho rằng, biện pháp tốt nhất để kết thúc chiến tranh khi đó chỉ là ném bom nguyên tử?”
“Theo bạn, cách tốt nhất đế tránh chiến tranh ngày nay là gì?”
Lịch sử nước Mỹ mới chỉ có vỏn vẹn 200 năm, nhưng đã đủ sức mở cánh cửa trí tuệ của các em học sinh.
Sự khác biệt giữa công nhân và ông chủ
Người cha này vẫn nhớ rằng khi con trai ông tốt nghiệp tiểu học, cậu bé đã có thể sử dụng thành thạo hệ thống máy vi tính và vi phim của thư viện để tra cứu tư liệu và hình ảnh. Có lần, hai bố con tranh luận về tập tính săn mồi của sư tử và báo, ngày hôm sau, cậu con trai mượn từ thư viện tập phim về động vật của Hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ, hai cha con vừa xem vừa thảo luận. Học sinh tiểu học của Mỹ lúc này đã học được phương pháp tìm đáp án ở đâu mỗi khi có nghi vấn. Ngoài thư viện, học sinh trung tiểu học ở Mỹ cũng tìm tài liệu trên các trang web liên quan khi làm bài tập và một số báo cáo nghiên cứu.
Lưu học sinh Trung Quốc tới Mỹ làm tiến sĩ, từ lúc vào học tới lúc tốt nghiệp, giành được học vị tiến sĩ cần năm năm. Trong viện nghiên cứu sinh, rất nhiều người có cảm giác rằng người Mỹ thường không phải là đối thủ của lưu học sinh Trung Quốc trong chuyện thi lấy học bổng, nhưng cứ đụng tới lĩnh vực thực tiễn, làm một vài vấn đề có tính nghiên cứu, thì người Trung Quốc không thể linh hoạt được bằng người Mỹ, không có tính sáng tạo dồi dào như họ.
Tới khi cầm được bằng tiến sĩ để đi tìm việc, viết sơ yếu lý lịch, họ lại lạc hậu một bước lớn, không biết tự quảng bá cho bản thân mình. Không thể “viết về bản thân mình” không phải vì họ không biết, mà là vì không có đủ bản lĩnh để thể hiện cái “tôi” của mình.
Đương nhiên, điều này có liên quan tới sự bất đồng giữa giáo dục và toàn bộ hệ thống giáo dục cơ sở. Người Trung Quốc chỉ quen phát huy bản lĩnh trong một khung quy định nào đó, một khi không còn quy định, mất đi sự chỉ đạo, không nhìn thấy hệ thống quy chiếu vốn có nữa, thì với người Mỹ là giành được tự do, còn với người Trung Quốc, có lẽ chỉ còn lại cảm giác mất phương hướng, khủng hoảng, trống rỗng, không biết dựa vào đâu.
Khi đã công tác được năm năm, mười năm, thực tế ấy lại càng rõ ràng hơn. Người Trung Quốc thường chỉ có thể làm kỹ thuật, cùng lắm là lên quản lý một bộ phận kỹ thuật nào đó, dường như không mấy ai làm được giám đốc công ty lớn. Người Trung Quốc không phục những ông chủ không giỏi về kỹ thuật và thường băn khoăn: bản lĩnh của họ rốt cục nằm ở đâu?
Bản lĩnh đó là: hiểu được sở trường của từng thành viên trong công ty, giúp họ phát huy tận lực sở trường của mình, nhân viên và công ty cùng hợp tác, nâng cao giá trị của công ty mình trong mắt nhà đầu tư và khách hàng, không ngừng thu hút thêm vốn đầu tư và tăng thêm đầu ra cho sản phẩm… Hiển nhiên, đây là tác phẩm của một ông chủ, chứ không phải của một công nhân.
Anh Sa (Dịch từ Văn cảo báo, 29/04/2007)

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

CHUYÊN ĐỀ KHỐI 5 - 2011/2012

1.TẠO TÀI KHOẢN GMAIL
Truy cập vào địa chỉ http://www.gmail.com bạn sẽ thấy nội dung của trang đăng nhập vào tài khoản Gmail thường được hiển thị như sau:

Kích chọn Sign up for gmail (đăng ký vào GMAIL)





2.Lựa chọn ngôn ngữ (nên chọn tiếng việt)

Đăng ký thông tin theo yêu cầu
Chú ý: việc đặt tên phải khả dụng (chưa ai sử dụng, không vi phạm), đặt mật khẩu phải mạnh (nên dài trên 8 ký tự, có cả số và chữ, không lặp theo tên, …)

Điền thông tin bảo mật và bản quyền

Chú ý:
1. Những câu hỏi đặt ra và phần trả lời của bạn chính là cơ sở để sau này nếu mất tài khoản hoặc mật khẩu chúng ta có thể dựa vào chúng để lấy lại.
2. Email phụ là email có khả năng xác nhận thông tin cho bạn nên nếu bạn điền địa chỉ email nào đó thì phải chính xác và an toàn nhé.
3. Từ xác minh chỉ là một hình thức tránh xâm nhập tự động, nhưng bạn phải nhập đúng theo từ hiển thị trên màn hình đấy nhé.
4. Phần điều khoản bản quyền bạn cứ chấp nhận vì nó an toàn cho bạn.
Sau khi bạn kích chọn “Tôi chấp nhận. hãy tạo tài khoản của tôi“, màn hình sẽ chuyển trạng thái hoàn thành cho bạn
hãy bấm vào dòng “Tôi đã sẵn sàng – hãy cho tôi xem tài khoản của mình“
Mỗi hộp thư cho bạn 2.500 MB, nhưng nếu bạn sử dụng quá mức thì cũng an tâm là gmail có thể tự nâng cấp không gian cho bạn miễn sao bạn phải “hoạt động” thường xuyên và có ích.


3.SỬ DỤNG GMAIL

Màn hình chính của hộp thư GMAIL
Chúng ta cùng tìm hiểu nhé:
1. Hộp thư đến: lưu giữ thư gởi đến cho bạn. Nếu có thư đến nó sẽ hiển thị con số thư mới đến cho bạn. Kích vào đây, khung màn hình trung tâm sẽ hiển thị các thư đến cho bạn.
2. Hộp thư đi: lưu giữ thư bạn gởi đi
3. Thư nháp: lưu giữ thư bạn đang chỉnh sửa và lưu giữ (chưa gởi đi)
4. Trò chuyện: lưu giữ các đoạn trò chuyện giữa bạn với bạn bè
5. Spam: bộ lọc thư rác (thư quảng cáo, ..) dùm bạn
6. Thùng rác: thư bạn đã xóa sẽ bỏ vào đây, nếu bạn muốn xóa luôn thì vào đây xóa hết




4.Cài đặt cho GMAIL
Kích vào chữ “cài đặt” trên cùng bên phải của hộp thư

Màn hình cài đặt chung
Thiết lập các thông số:
1. Chung
o Lựa chọn lại ngôn ngữ sử dụng
o Thiết lập ảnh đại diện và chữ ký điện tử
2. Tài khoản và nhập
o Nhập địa chỉ từ các hộp thư khác nhanh chóng
o Chỉnh sửa thông tin tài khoản, đổi mật khẩu, ..
3. Nhãn: thiết đặt ẩn/hiển các bộ nhãn
4. Bộ lọc: tạo ra các bộ lọc thư theo các tiêu chí như tên người gởi, chủ đề thư, ..
5. Chuyển tiếp và POP/IMAP: thiết đặt mở cho phép kết nối POP từ các máy/thiết bị khác
6. Trò chuyện: thiết đặp tính năng trò chuyện
7. Đoạn nội dung trên web (bạn không cần nghiên cứu)
8. Labs: các tình năng mới hỗ trợ chưa kiểm duyệt
9. Chủ đề: lựa chọn theme riêng cho hộp thư của bạn (chỉ đối với các trình duyệt web cao cấp như IE7, firefox, …)

5.SOẠN THƯ

Màn hình gởi thư
1. Đính kèm tệp: đưa file từ máy vào mail để gởi đi (như file ảnh, file văn bản, file chương trình, …)
2. Tới: địa chỉ người gởi.
o Thêm CC: là những người gởi phụ mà người gởi chính sẽ biết.
o Thêm BCC: là những người gởi phụ mà người chính không biết được.
3. Chủ đề: tên tiêu đề thư sẽ hiện ra đầu tiên tại hộp thư đến của người nhận
4. Các tính năng hỗ trợ viết văn bản trên mail (tự nghiên cứu)
Sẽ còn nhiều tình năng hay nữa như chat, game, … các bạn tự nghiên cứu tiếp nhé.